1. Thời hạn hòa giải tranh chấp lao động là bao lâu?
Theo khoản 2 Điều 188 Bộ luật Lao động, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan có thẩm quyền, hòa giải viên phải kết thúc việc hòa giải.
2. Hết thời hạn hòa giải nhưng trước đó chưa yêu cầu thì giờ còn hòa giải được không?
Vẫn còn cơ hội nếu bạn còn trong "thời hiệu" yêu cầu. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Nếu từ thời điểm bạn phát hiện quyền lợi bị vi phạm đến nay chưa quá 06 tháng, bạn hoàn toàn có quyền nộp đơn yêu cầu Hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải.
3. Không có hòa giải thì có còn quyền khởi kiện ra Tòa án không?
Về nguyên tắc, tranh chấp lao động cá nhân bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, bạn vẫn có quyền khởi kiện ra Tòa án trực tiếp mà không bắt buộc phải qua hòa giải nếu vụ tranh chấp của bạn thuộc một trong các trường hợp ngoại lệ sau (khoản 1 Điều 188 BLLĐ):
- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động.
- Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động.
- Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
- Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.