Search
Close this search box.
Thứ sáu, 10/07/2026
Search
Close this search box.

Nhập từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Định hướng 2618/TTCP-KHTC năm 2025 về Chương trình Thanh tra năm 2026 do Thanh tra Chính phủ ban hành

  • Tóm tắt
  • Nội dung
  • Hiệu lực
  • Lược đồ
  • Tải về
  • VB liên quan

Thuộc tính Định hướng 2618/TTCP-KHTC năm 2025 về Chương trình Thanh tra năm 2026 do Thanh tra Chính phủ ban hành

Số hiệu: 2618/TTCP-KHTC Loại văn bản: Văn bản khác
Cơ quan ban hành: Thanh tra Chính phủ Ngày ban hành: 23/10/2025
Người ký: Đoàn Hồng Phong Ngày có hiệu lực: 01/01/1970
Tình trạng hiệu lực: Còn hiệu lực

Tóm tắt văn bản

THANH TRA CHÍNH
PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 2618/TTCP-KHTC

Hà Nội, ngày 23
tháng 10 năm 2025

 

ĐỊNH HƯỚNG

CHƯƠNG
TRÌNH THANH TRA NĂM 2026

Căn cứ Luật Thanh tra số 84/2025/QH15 ngày 25 tháng
6 năm 2025, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra
Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, các cơ quan Thanh
tra được thành lập theo điều ước quốc tế và Thanh tra các tỉnh, thành phố
(Thanh tra tỉnh) tiến hành xây dựng Định hướng chương trình thanh tra năm 2026
như sau:

I. Tình hình và kết quả công tác
thanh tra năm 2025

Năm 2025 là năm cuối nhiệm kỳ (2021-2025), dưới sự
lãnh đạo tập trung, thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư; sự
phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của Quốc hội; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị;
sự đồng thuận của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; đất nước ta đã đạt những
kết quả quan trọng, cơ bản hoàn thành các mục tiêu chủ yếu đề ra, kinh tế vĩ mô
cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối
lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Trong năm 2025, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, ban hành nhiều quyết sách mang tính lịch sử, có ý
nghĩa chiến lược, mở ra bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của đất nước[1], nhất là cuộc cách mạng về sắp xếp
tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ
chức hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp.

Thực hiện Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 của
Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn,
mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 13/4/2025 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 134-KL/TW ngày
28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ngành Thanh tra đã thay đổi mạnh mẽ về
tổ chức bộ máy, sắp xếp cơ cấu tổ chức theo hướng tinh, gọn, chuyên nghiệp, rõ
ràng về chức năng, nhiệm vụ, không bỏ sót nhiệm vụ và hạn chế chồng chéo. Mục
tiêu là xây dựng bộ máy thanh tra hoạt động hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn công
tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Trong năm 2025, Thanh tra Chính phủ và ngành Thanh
tra đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương pháp lãnh đạo, tổ chức thực
hiện các cuộc thanh tra, tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm, thường xảy ra
sai phạm; đồng thời quan tâm những lĩnh vực mới, dự án lớn; tổ chức thực hiện
hiệu quả các cuộc thanh tra chuyên đề diện rộng trên phạm vi cả nước. Qua hoạt
động thanh tra đã phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm các sai phạm, lãng phí,
tiêu cực theo đúng phương châm của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo Trung ương) là “không có vùng cấm, không
có ngoại lệ”, chuyển cơ quan điều tra nhiều vụ việc, vụ án lớn; kết quả điều
tra, truy tố, xét xử khẳng định phát hiện, kiến nghị của cơ quan thanh tra là
chính xác. Đồng thời, hoạt động thanh tra đã hướng đến tăng cường phòng ngừa,
phát hiện những sơ hở, bất cập của pháp luật để kiến nghị với Chính phủ, các cơ
quan chức năng hoàn thiện hệ thống pháp luật. Những đổi mới này đã góp phần
quan trọng trong thiết lập và duy trì kỷ cương phép nước, đồng thời đóng góp
quan trọng cho tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội.

II. Bối cảnh và yêu cầu mới

Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm diễn
ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội
khoá XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, là năm đầu
các cấp, các ngành triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng để đưa
đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với khát vọng
thịnh vượng, hùng cường, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng và Nhà nước tiếp tục
đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững
trên cơ sở khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả;
kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh, góp phần củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng,
Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng
Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương: (i) Phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đảm bảo phục vụ tốt nhất nhiệm vụ phát triển
kinh tế – xã hội; (ii) Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực phải được tăng cường, đồng bộ với quá trình vận hành chính quyền địa phương
02 cấp thực sự liêm chính, gần dân, sát dân, phục vụ Nhân dân, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả; (iii) Công tác phòng, chống lãng phí phải được đặt ngang hàng
với phòng, chống tham nhũng; (iv) Chuyển trọng tâm công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực sang phòng ngừa, chủ động nhận diện, dự báo, cảnh
báo vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn,
kiên quyết không để tái diễn các sai phạm cũ.

Trong bối cảnh đó, công tác thanh tra có vị trí,
vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những công cụ sắc bén của Đảng và Nhà
nước đế: (i) bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, điều hành của các
cấp, các ngành; (iii) Phòng ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân; (iii)
Thông qua hoạt động thanh tra, phát hiện những sơ hở, bất cập của pháp luật đế
kiến nghị hoàn thiện nhằm phòng ngừa tham nhũng và phục vụ phát triển kinh tế –
xã hội; hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư, khơi thông nguồn
lực đất đai, tài chính, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế – xã hội; (iv)
Tạo môi trường minh bạch, công bằng để các thành phần kinh tế phát triển, hội
nhập sâu rộng, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

III. Mục tiêu của Định hướng
chương trình thanh tra năm 2026

Định hướng chương trình thanh tra năm 2026 không chỉ
nhằm giải quyết những yêu cầu quản lý trước mắt, mà còn có ý nghĩa chiến lược
trong việc đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, góp phần xây dựng
nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại; thúc đẩy phát triển đất nước
trong kỷ nguyên mới. Do vậy, Định hướng chương trình thanh tra năm 2026 cần đạt
được những mục tiêu chủ yếu sau:

Triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả pháp luật
về thanh tra và các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, chỉ đạo của Ban chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực[2],
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh tra. Hoạt động thanh
tra phải đảm bảo nguyên tắc tuân theo pháp luật, dân chủ, công khai, khách
quan, kịp thời, chính xác; bảo đảm nội dung thanh tra có trọng tâm, trọng điểm,
đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước của các cấp, các ngành, vận
hành để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tập trung vào các
ngành, lĩnh vực, địa phương dễ phát sinh vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,
có nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo, dư luận xã hội quan tâm; các ngành, lĩnh vực,
cơ quan, đơn vị, địa phương nhiều năm chưa được thanh tra. Đồng thời phải nâng
cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ, thực hiện nghiêm quy định về
kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thanh
tra; xử lý kịp thời chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra; không thanh
tra quá một lần một năm đối với mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trừ trường hợp
cần thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật[3].

Qua thanh tra kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những
yếu kém, thiếu sót trong quản lý nhà nước; có biện pháp khắc phục, xử lý nghiêm
minh, đúng pháp luật đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật, tham nhũng,
tiêu cực; kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật còn bất cập, sơ hở để kiến
tạo phát triển và phòng ngừa, không để xảy ra sai phạm; góp phần tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc đối với các công trình, dự án, đất đai … để khơi thông nguồn
lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; đảm bảo vận hành thông suốt chính quyền
địa phương 02 cấp, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, hiệu quả
hơn. Đồng thời qua hoạt động thanh tra cần ghi nhận, đánh giá những ưu điểm, kết
quả đạt được, những mô hình hay, cách làm hiệu quả vì sự phát triển chung của
ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị, địa phương để phát huy, nhân rộng, lan toả; bảo
vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi
ích chung.

Tăng cường công tác đôn đốc, xử lý sau thanh tra,
nhất là tăng tỷ lệ thu hồi tiền và tài sản do vi phạm, tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực[4].

Tiếp tục nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp,
cách thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác thanh tra đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới; nhất là đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi
số trong hoạt động thanh tra; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan
thanh tra; xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra đủ phẩm chất, năng lực, trình độ
và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

IV. Nội dung định hướng trọng
tâm công tác thanh tra năm 2026

1. Thanh tra Chính phủ

Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm
vụ, quyền hạn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh và các đơn vị trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách
nhiệm quản lý nhà nước của nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
thanh tra việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước tại doanh nghiệp…
Tập trung vào các địa bàn, lĩnh vực chủ yếu sau:

– Thanh tra trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp xã trên các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực trung ương phân cấp, phân quyền
cho địa phương thực hiện (quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, đầu
tư, xây dựng …); việc thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp; thanh tra trách
nhiệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thanh tra phòng, chống lãng phí trong quản
lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước.

– Đối với lĩnh vực nội chính, nội vụ, tư pháp:
thanh tra công tác cán bộ trước và sau sắp xếp, tinh gọn bộ máy và việc thực hiện
dịch vụ hành chính công; thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động; thanh tra
trách nhiệm quản lý nhà nước và các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, quyền sử
dụng đất.

– Đối với lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: thanh tra việc
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi[5];
việc chấp hành các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

– Đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng: thanh tra
công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước, quản lý tài chính, tài sản; việc
quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước tại các cơ quan, đơn vị và doanh
nghiệp; việc chấp hành pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; việc chấp hành pháp luật
trong hoạt động tín dụng, ngân hàng;

– Đối với lĩnh vực xây dựng: thanh tra việc chấp
hành pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, kinh doanh bất
động sản; dự án đường bộ cao tốc, vận tải đường bộ, đường sắt; đầu tư, xây dựng
phát triển nhà ở xã hội.

– Đối với lĩnh vực nông nghiệp, môi trường: thanh
tra việc quản lý, cấp phép, khai thác khoáng sản trong cả nước; việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; việc chấp hành các quy định
của pháp luật về đất đai, nhất là đất nông, lâm trường, bảo vệ môi trường, tài
nguyên nước, tài nguyên môi trường biển và hải đảo, an toàn thực phẩm; việc quản
lý nhà nước đối với Quy hoạch hệ thống cảng cá khu neo đậu tránh trú bão; việc
thực hiện quy định của pháp luật về thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai.

– Đối với lĩnh vực công thương: thanh tra việc chấp
hành pháp luật về xuất nhập khẩu, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực điện lực,
dầu khí, hóa chất, xăng dầu; việc chấp hành pháp luật về quản lý thị trường, xuất,
nhập khẩu, đầu tư, sản xuất, mua bán nguyên liệu thuốc lá và thuốc lá.

– Đối với lĩnh vực giáo dục: thanh tra việc chấp
hành pháp luật về giáo dục đại học; việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại
một số cơ sở giáo dục; việc quản lý cơ sở giáo dục phổ thông liên cấp, cơ sở
giáo dục trung học phổ thông tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông có vốn đầu tư nước
ngoài.

– Đối với lĩnh vực y tế: thanh tra trách nhiệm
trong quản lý nhà nước về hoạt động hành nghề, khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm và
dược phẩm; cấp phép, cấp đăng ký hành nghề và quản lý hoạt động của các cơ sở
cung cấp dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ, tạo hình; công tác quản lý, xây dựng công
trình y tế.

– Đối với lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch,
ngoại giao: thanh tra việc thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch
quốc gia; việc chấp hành quy định pháp luật trong việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng
Quỹ Bảo tồn di sản; việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, đầu tư lĩnh vực truyền
hình; việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản
và đầu tư lĩnh vực ngoại giao.

– Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ: thanh tra
trách nhiệm quản lý nhà nước và việc quản lý, triển khai chương trình, đề án, dự
án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số và Chính phủ điện tử;
việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa
học và công nghệ.

2. Thanh tra Bộ Quốc phòng,
Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước

– Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, quyền hạn đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp
luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, bao gồm thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật
về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực của thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc Bộ.

– Thanh tra các tổ chức, cá nhân trong việc chấp
hành pháp luật, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quản lý ngành, lĩnh vực thuộc
phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ.

3. Thanh tra Cơ yếu, cơ quan
thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế

– Thanh tra Cơ yếu: thanh tra việc thực hiện chính
sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
quyền quản lý của Trưởng ban Ban Cơ yếu Chính phủ; thực hiện nhiệm vụ thanh tra
trong các lĩnh vực Ban Cơ yếu Chính phủ, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý
nhà nước về cơ yếu, mật mã dân sự, chữ ký số chuyên dùng công vụ.

– Cơ quan thanh tra được thành lập theo điều ước quốc
tế: thanh tra việc chấp hành, pháp luật chuyên ngành, pháp luật có liên quan đến
điều ước quốc tế của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực thuộc phạm vi
quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp.

(Chi tiết Định hướng chương trình thanh tra đối
với Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước,
Thanh tra Cơ yếu và cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước Quốc tế có
Phụ lục kèm theo)

4. Thanh tra tỉnh

– Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác và đơn vị sự
nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp xã, phường;
đơn vị, cá nhân thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban
nhân dân cấp xã; thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
thanh tra việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước tại doanh nghiệp do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu (trừ trường hợp Thanh tra Chính phủ
tiến hành thanh tra), bao gồm thanh tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định
của pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực. Tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu sau:

– Về thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp: thanh
tra việc quản lý sử dụng tài sản công, cơ sở nhà đất; quản lý và sử dụng cán bộ,
công chức, viên chức, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy cấp tỉnh; việc thực hiện dịch
vụ hành chính công…

– Về đất đai, tài nguyên, khoáng sản: thanh tra việc
quản lý, sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất đối với các công trình, dự án; việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất; việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nơi có dự án trọng điểm đi qua; công
tác quản lý và khai thác tài nguyên, khoáng sản…

– Về đầu tư xây dựng cơ bản: thanh tra các dự án
công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tồn đọng, kéo dài, có nguy cơ
gây thất thoát lãng phí; các dự án liên quan đến giao thông, nông nghiệp, thủy
lợi; các chương trình mục tiêu quốc gia; thanh tra chuyên đề diện rộng về xây dựng
nông thôn mới…

– Về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo,
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực: thanh tra trách nhiệm thực hiện
pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Giám đốc sở và Thủ trưởng các ngành cấp tỉnh,
Chủ tịch UBND cấp xã.

– Thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước của các sở,
ngành cấp tỉnh và các đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

5. Các cơ quan thanh tra thực hiện
thanh tra theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền; tiến hành thanh tra đột xuất khi
phát hiện dấu hiệu vi phạm; thanh tra lại theo quy định của pháp luật về thanh
tra.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Tổng Thanh tra Chính phủ chỉ đạo xây dựng, ban
hành Kế hoạch thanh tra năm 2026 của Thanh tra Chính phủ, đồng thời, có văn bản
hướng dẫn Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng
Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, các cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước
Quốc tế và Thanh tra các tỉnh, thành phố xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra
năm 2026, bảo đảm kịp thời, hiệu quả và khả thi.

2. Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, Chánh Thanh tra Bộ
Công an, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Chánh Thanh tra Cơ yếu, Chánh
Thanh tra cơ quan thanh tra được thành lập theo điều ước Quốc tế, Chánh Thanh
tra tỉnh căn cứ vào Định hướng chương trình thanh tra đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt; văn bản hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra của Tổng
Thanh tra Chính phủ; yêu cầu công tác quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; yêu cầu công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan
mình và các căn cứ khác theo quy định của pháp luật xây dựng, ban hành kế hoạch
thanh tra năm 2026 theo quy định của pháp luật về thanh tra.

3. Thanh tra Chính phủ, các cơ quan thanh
tra phối hợp xử lý chồng chéo, trùng lặp trong xây dựng, ban hành và tổ chức thực
hiện kế hoạch thanh tra năm 2026. Phối hợp chặt chẽ với Kiểm toán nhà nước để xử
lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán theo quy định và
Quy chế phối hợp giữa hai cơ quan. Trường hợp không trùng lặp về nội dung thì
hai cơ quan thống nhất, tránh chồng chéo về thời gian tiến hành thanh tra, kiểm
toán để không ảnh hưởng hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị được thanh
tra, kiểm toán. Trường hợp có trùng lặp nhưng cần thiết phải thanh tra do có
yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, yêu cầu của công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thì Thủ trưởng
cơ quan thanh tra trao đổi, thống nhất với Kiểm toán nhà nước để cơ quan thanh
tra tiến hành thanh tra./.

 

Nơi nhận:
– Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
– Phó TTgTT CP Nguyễn Hòa Bình (để b/c);
– Lãnh đạo Thanh tra Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– UBND các tỉnh, thành phố;
– Ban Cơ yếu Chính phủ;
– Các Cục: An toàn bức xạ và hạt nhân, Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Hàng
không Việt Nam;
– Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
– Các vụ, cục, đơn vị thuộc TTCP;
– Thanh tra các Bộ, ngành: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước;
– Thanh tra: Cơ yếu, An toàn bức xạ và hạt nhân, Hàng hải Việt Nam, Hàng
không Việt Nam, Chứng khoán Nhà nước;
– Lưu: VT, KHTC.

TỔNG THANH TRA

Đoàn Hồng Phong

 

PHỤ
LỤC

(kèm theo Định hướng
chương trình thanh tra năm 2026, số 2618/TTCP-KHTC ngày 23 tháng 10 năm 2025)

Tên đơn vị

Nội dung

1. Thanh tra Bộ Quốc phòng

– Thanh tra công tác sẵn sàng chiến đấu, quản lý
vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, các địa bàn trọng điểm và không
gian mạng; công tác huấn luyện, xây dựng nền nếp chính quy, quản lý kỷ luật;
công tác tổ chức xây dựng lực lượng; công tác giáo dục chính trị, phổ biến
giáo dục pháp luật; công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính.

Thanh tra công công tác quản lý, đầu tư
xây dựng cơ bản; quản lý sử dụng đất quốc phòng; quản lý tài chính, ngân
sách, mua sắm tài sản công ; quản lý sử dụng vốn, tài sản, công tác
mua sắm, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật; những nội dung mang
tính chất phức tạp, nhạy cảm dễ phát sinh tham nhũng tiêu cực.

– Thanh tra trách nhiệm người chỉ huy trong việc
chấp hành pháp luật Nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết
KNTC và PCTN, lãng phí, tiêu cực; công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Thanh tra việc xây dựng và tổ chức thực
hiện các quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án về quốc phòng; việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn về công tác quốc phòng của các Bộ, ngành trung ương, địa phương
theo quy định của pháp luật.

2. Thanh tra Bộ Công an

– Thanh tra chuyên đề diện rộng việc thực hiện
nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả của lực lượng
Công an nhân dân. 

– Thanh tra một số mặt công tác của Cục, Trường,
Học viện trong Công an nhân dân.

– Thanh tra một số mặt công tác của Trại giam, cơ
sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam,
cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an.

– Thanh tra một số mặt công tác của một số công
ty, doanh nghiệp thuộc Cục Công nghiệp an ninh.

Thanh tra diện rộng việc chấp hành các
quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại
Việt Nam; xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; bảo vệ công trình quan
trọng liên quan đến an ninh quốc gia; bảo vệ mục tiêu quan trọng về chính trị,
kinh tế, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội do lực lượng Cảnh sát
nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác, bảo vệ.

– Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp
luật về bảo vệ bí mật nhà nước; bảo vệ an ninh mạng và an toàn thông tin mạng.

Thanh tra việc chấp hành các quy định của
pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

– Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp
luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

3. Thanh tra Chứng khoán
Nhà nước

– Thanh tra việc chấp hành pháp luật về việc chào
bán, phát hành chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, công bố thông tin và sử
dụng nguồn tiền từ phát hành chứng khoán, trái phiếu của doanh nghiệp.

– Thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động
nghiệp vụ môi giới và cung cấp dịch vụ có liên quan đến hoạt động nghiệp vụ
môi giới của công ty chứng khoán.

4. Thanh tra Ngân hàng Nhà
nước

1. Định hướng thanh tra đối với đơn vị, cá
nhân thuộc quyền quản lý của Thống đốc NHNN:

Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn theo quy định của pháp luật, theo phân công, ủy quyền của Thống đốc
NHNN; việc chấp hành các quy định của pháp luật, quy định nội bộ liên quan đến
chuyên môn, nghiệp vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra.

– Việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý, thanh
tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt
động ngân hàng theo quy định của pháp luật và theo phân công ủy quyền của Thống
đốc NHNN; thanh tra hoạt động kinh doanh vàng; tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm theo quy định của
pháp luật và theo phân công, ủy quyền của Thống đốc NHNN; thanh tra các nội
dung khác theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

– Việc chấp hành chính sách pháp luật về thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong quản lý, sử dụng tài sản công.

– Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế,
phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết số
18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng và các chỉ đạo của
Chính phủ, NHNN.

– Việc thực hiện kết luận thanh tra, kiến nghị,
quyết định xử lý về thanh tra, báo cáo kiểm toán của đối tượng thanh tra theo
quy định pháp luật.

– Hoạt động mua, bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc
biệt; hoạt động mua, bán nợ xấu theo giá trị thị trường; việc xử lý nợ xấu và
tài sản bảo đảm…

2. Định hướng thanh tra các lĩnh vực thuộc
phạm vi quản lý nhà nước của NHNN:

Đối với TCTD (không bao gồm QTDND)

– Hoạt động cấp tín dụng, trong đó tập trung
thanh tra các khoản cấp tín dụng tiềm ẩn rủi ro cao như: Cấp tín dụng tập
trung vào khách hàng lớn; nhóm khách hàng (liên quan đến cổ đông lớn, người
có liên quan của cổ đông lớn của TCTD…); cấp tín dụng có tài sản bảo đảm là
bất động sản; cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh bất động sản hoặc dự án chưa
đầy đủ pháp lý; cấp tín dụng có liên quan đến Ban lãnh đạo TCTD (Ban điều
hành, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát), người có liên quan của Ban lãnh đạo
TCTD.

– Việc thực hiện tăng trưởng tín dụng của các
TCTD.

– Công tác xử lý nợ xấu và thực hiện các giải
pháp xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu; việc thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với
xử lý nợ xấu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

– Hoạt động huy động vốn (lưu ý về lãi suất huy động
từ tổ chức, cá nhân).

– Công tác quản lý tài sản, thu nhập, chi phí,
mua sắm tài sản, hàng hóa, xây dựng, sửa chữa tài sản.

– Công tác quản lý và sử dụng các quỹ tại TCTD
(quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,…).

– Công tác quản trị, điều hành, hệ thống kiểm
soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro của các TCTD.

– Việc chấp hành các quy định về giới hạn, tỷ lệ
bảo đảm an toàn hoạt động.

– Phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro; công tác xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ ngoại bảng sau
khi xử lý rủi ro tín dụng, việc xuất toán nợ đã xử lý rủi ro ra khỏi ngoại bảng.

– Việc thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi
theo chỉ đạo của Chính phủ (như nhà ở xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa…).

– Việc chấp hành các quy định của pháp luật về
ngoại hối; hoạt động kinh doanh vàng; hoạt động thanh toán và ngân hàng số;
phòng, chống rửa tiền; hoạt động ủy thác đầu tư và các tài sản có khác; góp vốn,
mua cổ phần, đầu tư tài chính; hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và
các hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan trái phiếu doanh nghiệp; hoạt động đại
lý bảo hiểm.

– Việc chấp hành các quy định về an toàn kho quỹ,
công tác an ninh bảo vệ đối với trụ sở, địa điểm giao dịch.

– Hoạt động cho vay tiêu dùng, cho vay bằng
phương thức điện tử, thu hồi nợ, lãi suất, phí, hợp đồng tín dụng của các
công ty tài chính.

– Việc đảm bảo an toàn hệ thống thông tin trong
hoạt động ngân hàng theo quy định tại Thông tư số 09/2020/TT-NHNN ngày
21/10/2020.

3. Đối với QTDND:

– Công tác quản trị, điều hành, hoạt động của hệ
thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ.

– Vốn điều lệ và một số nội dung liên quan đến
thành viên.

– Hoạt động huy động vốn; việc bảo quản, theo
dõi, sử dụng sổ tiết kiệm trắng; hoạt động đại lý thanh toán.

– Hoạt động cho vay, phân loại nợ và trích lập dự
phòng rủi ro.

– Việc chấp hành các quy định về giới hạn, tỷ lệ
bảo đảm an toàn trong hoạt động của QTDND.

– Việc thực hiện các quy định về an toàn kho quỹ
và tài chính, kế toán.

– Việc đảm bảo an toàn hệ thống thông tin trong
hoạt động ngân hàng theo quy định tại Thông tư số 09/2020/TT-NHNN ngày
21/10/2020.

4. Đối với tổ chức cung ứng dịch vụ trung
gian thanh toán:

– Thanh tra việc tuân thủ các quy định pháp luật
trong hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó lưu ý các nội
dung: Việc tuân thủ Giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; công
tác quản trị rủi ro, việc giải quyết tra soát, khiếu nại, tranh chấp và chăm
sóc, hỗ trợ khách hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ trung gian thanh
toán; việc duy trì và đáp ứng điều kiện cung ứng dịch vụ trung gian thanh
toán; việc triển khai các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong quá trình
cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán…

– Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp
luật về phòng, chống rửa tiền.

5. Thanh tra An toàn bức xạ
và hạt nhân

Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
năng lượng nguyên tử về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt
nhân ; chuẩn bị và ứng phó sự cố bức xạ ; bảo đảm chất lượng hoạt động dịch vụ
hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử

6. Thanh tra Hàng hải Việt
Nam

Thanh tra diện rộng việc chấp hành các quy định của
pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong
công tác quản lý và khai thác cảng biển; công tác quản lý tàu, thuyền viên tại
các doanh nghiệp vận tải biển, doanh nghiệp quản lý tàu ; công tác tuyển dụng
và cung ứng thuyền viên.

7. Thanh tra Hàng không Việt
Nam

Thanh tra về khai thác, bảo dưỡng tàu bay của một
số hãng hàng không, tổ chức bảo dưỡng ; cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng
hàng không sân bay ; dịch vụ bảo đảm hoạt động bay. Nội dung các cuộc thanh
tra sẽ bao gồm việc triển khai thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn hàng
không trong hoạt động của các doanh nghiệp.

8. Thanh tra Cơ yếu

Thanh tra trách nhiệm của người đứng đầu, của cán
bộ, nhân viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ được giao; công
tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực cơ yếu và việc triển khai, quản lý,
sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, phòng ngừa, đấu tranh với
các hoạt động sử dụng mật mã, mã thám gây phương hại đến an ninh quốc gia.

 




[1] Nghị
quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày
24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết
số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của
Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025
của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo…

[2]
Trong đó có Thông báo Kết luận số 68-TB/BCĐTW ngày 08/10/2025 của Ban Chỉ đạo
Trung ương.

[3] Nghị
quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về
phát triển kinh tế tư nhân …

[4] Chú
trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra; tiếp tục
thực hiện Nghị quyết số 76-NQ/BCSĐ ngày 6/6/2023 của Ban cán sự đảng Thanh tra
Chính phủ tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
thanh tra và việc phát hiện, xử lý vi phạm qua thanh tra.

[5]
Giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025 được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính
phủ tại các địa phương được phân bổ kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước
lớn, có nhiều khó khăn, vướng mắc, tiến độ triển khai thực hiện chậm, tỷ lệ giải
ngân nguồn vốn thấp, có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí.

Hiệu lực

Cung cấp thông tin về văn bản gồm ngày ban hành, ngày có hiệu lực, ngày hết hiệu lực, trạng thái hiệu lực của văn bản.


Định hướng 2618/TTCP-KHTC năm 2025 về Chương trình Thanh tra năm 2026 do Thanh tra Chính phủ ban hành

Lược đồ văn bản

Văn bản được hướng dẫn - [0]
...
Văn bản được hợp nhất - [0]
...
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
...
Văn bản bị đính chính - [0]
...
Văn bản bị thay thế - [0]
...
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
...
Văn bản được căn cứ - [0]
...
Văn bản đang xem
Định hướng 2618/TTCP-KHTC năm 2025 về Chương trình Thanh tra năm 2026 do Thanh tra Chính phủ ban hành
Số hiệu: 2618/TTCP-KHTC
Loại văn bản: Văn bản khác
Lĩnh vực, ngành:
Nơi ban hành: Thanh tra Chính phủ
Người ký: Đoàn Hồng Phong
Ngày ban hành: 23/10/2025
Ngày hiệu lực: 01/01/1970
Ngày đăng: 10/07/2026
Số công báo:
Tình trạng: Còn hiệu lực
Văn bản hướng dẫn - [0]
...
Văn bản hợp nhất - [0]
...
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
...
Văn bản đính chính - [0]
...
Văn bản thay thế - [0]
...
Văn bản liên quan cùng nội dung - [0]
...

Văn bản Tiếng Việt

Chưa có file đính kèm.

Văn bản liên quan

  • : Sửa đổi, thay thế, huỷ bỏ
  • : Bổ sung
  • : Đính chính
  • : Hướng dẫn
  • Click vào phần bôi xanh để xem chi tiết