Search
Close this search box.
Thứ tư, 12/08/2026
Search
Close this search box.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 BLHS 2015 được quy định thế nào? Phân tích 4 yếu tố cấu thành, các khung hình phạt và ví dụ thực tế.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm phổ biến xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức. Với sự phát triển của công nghệ, hành vi lừa đảo ngày càng được thực hiện dưới nhiều hình thức như giả danh người khác, sử dụng giấy tờ giả, gian dối trong mua bán, vay mượn, đầu tư, tuyển dụng hoặc thực hiện giao dịch trên môi trường mạng.

Điểm đặc trưng của tội phạm này là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để làm cho người có tài sản tin tưởng, tự nguyện giao tài sản, sau đó chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, việc xác định có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không cần xem xét cụ thể thủ đoạn gian dối, thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt, giá trị tài sản và các tình tiết liên quan.

Vậy tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như thế nào? Bốn yếu tố cấu thành tội phạm gồm những gì? Người phạm tội có thể bị phạt bao nhiêu năm tù? Một số trường hợp thực tế được xác định là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ra sao? Hãy cùng tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho người khác tin tưởng và tự nguyện giao tài sản cho mình để chiếm đoạt.

Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi lừa đảo chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định, trong đó dấu hiệu đặc trưng nhất là thủ đoạn gian dối phải có mối quan hệ với việc người bị hại giao tài sản cho người phạm tội.

Thủ đoạn gian dối có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như:

– Đưa ra thông tin không đúng sự thật

– Giả mạo giấy tờ, tài liệu

– Giả danh người khác hoặc giả danh cơ quan, tổ chức

– Đưa ra thông tin sai về tài sản

– Gian dối về khả năng thực hiện hợp đồng

– Sử dụng tài khoản mạng xã hội giả để tạo lòng tin

– Đăng thông tin mua bán, đầu tư, tuyển dụng không có thật để nhận tiền

Điểm quan trọng cần phân biệt là trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối thường được thực hiện trước thời điểm người phạm tội nhận được tài sản. Chính hành vi gian dối làm cho người bị hại tin tưởng và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội. Đây cũng là dấu hiệu quan trọng để phân biệt với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Phân tích 4 yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để xác định một hành vi có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, cần xem xét đầy đủ 4 yếu tố gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm.

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ.

Người phạm tội thông qua hành vi gian dối đã làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản, từ đó xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức đối với tài sản đó.

Đối tượng bị chiếm đoạt có thể là tiền, tài sản hoặc các tài sản khác có giá trị và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác.

Ví dụ, A giả danh nhân viên ngân hàng, thông báo cho B rằng tài khoản của B đang gặp sự cố và yêu cầu B cung cấp mã OTP để “xác minh”. Sau khi có được thông tin, A chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của B sang tài khoản do mình kiểm soát.

Trong trường hợp này, quyền sở hữu đối với số tiền của B là quan hệ xã hội bị xâm phạm.

Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

Đây là dấu hiệu đặc biệt quan trọng của tội danh này.

Thứ nhất, phải có thủ đoạn gian dối

Thủ đoạn gian dối là việc người phạm tội đưa ra thông tin sai sự thật, tạo cho người bị hại nhận thức không đúng về sự việc, từ đó khiến họ tin tưởng và giao tài sản.

Thủ đoạn gian dối có thể được thực hiện bằng lời nói, hành động, giấy tờ, tài liệu hoặc thông qua các phương tiện điện tử.

Chẳng hạn:

– Giả danh công an để yêu cầu chuyển tiền

– Giả danh nhân viên ngân hàng

– Làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bán đất

– Đưa thông tin giả về dự án đầu tư

– Đăng bán tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình

– Giả vờ có khả năng xin việc để nhận tiền

– Tạo website hoặc tài khoản mạng xã hội giả để huy động vốn

Thứ hai, thủ đoạn gian dối phải làm cho người bị hại tin tưởng

Không phải mọi hành vi nói dối đều cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thủ đoạn gian dối phải có khả năng làm cho người bị hại tin tưởng thông tin mà người phạm tội đưa ra là thật, từ đó tự nguyện giao tài sản.

Ví dụ, A không có khả năng bán căn hộ nhưng tự giới thiệu mình là chủ căn hộ, cung cấp giấy tờ giả và ký hợp đồng đặt cọc với B. Tin tưởng A là chủ sở hữu căn hộ, B giao cho A 500 triệu đồng tiền đặt cọc.

Ở đây, hành vi gian dối của A là nguyên nhân khiến B giao tiền.

Thứ ba, có hành vi chiếm đoạt tài sản

Sau khi làm cho người bị hại tin tưởng và giao tài sản, người phạm tội phải có hành vi chiếm đoạt tài sản đó.

Việc chiếm đoạt có thể được thể hiện thông qua việc giữ lại, sử dụng, chuyển dịch, tẩu tán hoặc định đoạt tài sản trái pháp luật nhằm biến tài sản của người khác thành tài sản của mình.

Thứ tư, giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, trường hợp thông thường, tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp luật định, chẳng hạn như người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một số tội xâm phạm sở hữu mà chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục vi phạm.

Ngoài giá trị tài sản, các tình tiết khác như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh cũng có thể làm thay đổi khung hình phạt.

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015:

– Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật Hình sự có quy định khác.

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một số trường hợp luật định.

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự phải được đặt trong mối liên hệ với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi và khung hình phạt tương ứng.

Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tội nhận thức rõ việc đưa ra thông tin gian dối là trái pháp luật, nhận thức được hậu quả tài sản của người khác sẽ bị chiếm đoạt nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Một dấu hiệu thường gặp là ý định chiếm đoạt đã xuất hiện trước hoặc trong quá trình thực hiện thủ đoạn gian dối để nhận tài sản.

Ví dụ, A không có ý định mua hàng nhưng vẫn giả vờ đặt mua 1.000 sản phẩm của B, đưa ra thông tin giả về doanh nghiệp và khả năng thanh toán để B giao hàng trước. Sau khi nhận hàng, A đem bán cho người khác và bỏ trốn.

Nếu có đủ căn cứ chứng minh A ngay từ đầu đã sử dụng thông tin gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt hàng hóa thì hành vi có thể được xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị phạt bao nhiêu năm tù?

Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định nhiều khung hình phạt khác nhau tùy thuộc vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt và các tình tiết của hành vi phạm tội.

Khung hình phạt thứ nhất

Người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu:

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; hoặc

– Chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 1 Điều 174.

Một số trường hợp tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự gồm:

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm

– Đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc một số tội xâm phạm sở hữu khác mà chưa được xóa án tích nhưng còn vi phạm

– Hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

– Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Khung hình phạt thứ hai

Người phạm tội bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

– Có tổ chức

– Có tính chất chuyên nghiệp

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng

– Tái phạm nguy hiểm

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức

– Dùng thủ đoạn xảo quyệt

Khung hình phạt thứ ba

Người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu:

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng

– Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh

Khung hình phạt thứ tư

Người phạm tội bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu:

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên

– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp

Như vậy, mức hình phạt cao nhất đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể lên đến tù chung thân.

Hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị:

– Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng

– Cấm đảm nhiệm chức vụ

– Cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

– Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Việc áp dụng hình phạt bổ sung phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi và quyết định của Tòa án.

Một số ví dụ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ví dụ 1: Lừa đảo thông qua bán đất bằng giấy tờ giả

A không phải là chủ sử dụng một thửa đất nhưng đã làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tự nhận mình là chủ đất. A đưa giấy tờ giả cho B xem, ký hợp đồng chuyển nhượng và nhận của B 1 tỷ đồng. Sau khi nhận tiền, A cắt đứt liên lạc.

Trong trường hợp này, nếu chứng minh được A ngay từ đầu đã sử dụng giấy tờ giả và thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt 1 tỷ đồng của B thì hành vi có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Do giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên, nếu đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì hành vi có thể thuộc khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 174.

Ví dụ 2: Giả danh nhân viên ngân hàng

A gọi điện cho B và tự giới thiệu là nhân viên ngân hàng. A thông báo tài khoản của B đang có giao dịch bất thường và yêu cầu B cung cấp thông tin tài khoản, mã OTP để “xác minh”.

Tin tưởng A, B cung cấp mã OTP. A sử dụng thông tin này để chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của B sang tài khoản khác do mình kiểm soát.

Trong trường hợp này, thủ đoạn gian dối được thực hiện nhằm tạo lòng tin và khiến B cung cấp thông tin để A chiếm đoạt tiền. Nếu đủ căn cứ chứng minh hành vi, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ví dụ 3: Lừa đảo đầu tư qua mạng

A lập một tài khoản mạng xã hội và giới thiệu mình là chuyên gia đầu tư. A đưa ra thông tin giả về một dự án đầu tư, cam kết lợi nhuận 30% mỗi tháng và sử dụng hình ảnh, tài liệu giả để tạo lòng tin.

B tin tưởng và chuyển cho A 200 triệu đồng. Sau khi nhận tiền, A chặn liên lạc và không thực hiện bất kỳ hoạt động đầu tư nào.

Nếu có căn cứ chứng minh A không có hoạt động đầu tư thực tế và ngay từ đầu đã đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của B, hành vi có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với số tiền 200 triệu đồng, hành vi có thể thuộc khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu theo khoản 3 Điều 174.

Ví dụ 4: Nhận tiền xin việc rồi chiếm đoạt

A không có khả năng xin việc nhưng nói với B rằng mình có quan hệ với lãnh đạo một cơ quan và có thể giúp B được tuyển dụng. A yêu cầu B đưa 150 triệu đồng để “lo chi phí”.

Tin tưởng A, B giao tiền. Sau khi nhận tiền, A sử dụng toàn bộ số tiền cho mục đích cá nhân và không thực hiện việc xin việc như cam kết.

Nếu chứng minh được ngay từ đầu A không có khả năng xin việc và đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền thì hành vi có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Hai tội danh này đều nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng có điểm khác biệt quan trọng về cách thức tiếp cận tài sản và thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt.

Tiêu chíLừa đảo chiếm đoạt tài sảnLạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thủ đoạnDùng thông tin gian dối để làm người khác tin tưởng và giao tài sảnBan đầu nhận tài sản hợp pháp thông qua vay, mượn, thuê, hợp đồng…
Thời điểm gian dối/ý định chiếm đoạtThường xuất hiện trước khi nhận tài sảnThường phát sinh sau khi đã nhận tài sản hợp pháp
Cách thức nhận tài sảnNgười bị hại tự nguyện giao tài sản do tin vào thông tin gian dốiTài sản được giao hợp pháp trên cơ sở quan hệ dân sự, hợp đồng
Bản chấtGian dối ngay từ đầu để nhận được tài sảnLợi dụng sự tín nhiệm sau khi đã nhận tài sản hợp pháp để chiếm đoạt

Ví dụ, A giả vờ mua xe của B, sử dụng giấy tờ giả để tạo lòng tin rồi nhận xe và bỏ trốn. Đây có thể là dấu hiệu của tội lừa đảo.

Ngược lại, A thuê xe của B một cách hợp pháp, sau đó đem bán chiếc xe cho người khác nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể được xem xét về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu đáp ứng các điều kiện luật định.

Việc xác định đúng tội danh phải căn cứ vào toàn bộ diễn biến vụ việc, đặc biệt là ý định chiếm đoạt và thủ đoạn của người thực hiện hành vi tại thời điểm nhận tài sản.

Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần làm gì?

Khi phát hiện mình là nạn nhân của hành vi lừa đảo, người bị hại nên nhanh chóng thực hiện các công việc sau:

Bảo toàn chứng cứ

Cần lưu giữ toàn bộ tài liệu có liên quan như:

– Tin nhắn

– Email

– Lịch sử cuộc gọi

– Hình ảnh, video

– Nội dung trao đổi trên mạng xã hội

– Hợp đồng, giấy tờ

– Chứng từ chuyển khoản

– Thông tin tài khoản nhận tiền

– Thông tin về người thực hiện hành vi

Không nên xóa hoặc chỉnh sửa nội dung trao đổi vì đây có thể là nguồn chứng cứ quan trọng phục vụ quá trình xác minh.

Trình báo và tố giác hành vi phạm tội

Người bị hại có thể thực hiện quyền tố giác tội phạm và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền để được tiếp nhận, xác minh theo quy định pháp luật.

Đặc biệt đối với các vụ việc lừa đảo qua tài khoản ngân hàng, mạng xã hội hoặc nền tảng trực tuyến, việc trình báo sớm có thể giúp cơ quan chức năng kịp thời xác minh dòng tiền và các tài khoản liên quan.

Yêu cầu bảo vệ quyền lợi và thu hồi tài sản

Trong quá trình giải quyết vụ án, người bị hại có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét quyền lợi của mình, đồng thời yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường, hoàn trả tài sản theo quy định.

Việc có thu hồi được toàn bộ tài sản hay không phụ thuộc vào tình trạng tài sản, quá trình tẩu tán tài sản và kết quả xác minh, điều tra.

Nếu đã trả lại tiền cho bị hại thì có còn bị xử lý hình sự không?

Việc trả lại tiền, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự.

Nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, việc tự nguyện trả lại tài sản, bồi thường hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội khi Tòa án quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.

ng thức người phạm tội nhận tài sản và thủ đoạn gian dối được thực hiện như thế nào.

Kết luận

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 là tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, trong đó dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản nhằm chiếm đoạt.

Tùy thuộc vào giá trị tài sản và các tình tiết liên quan, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung theo quy định.

Trong thực tế, việc xác định một hành vi có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay chỉ là tranh chấp dân sự, kinh doanh hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần được đánh giá dựa trên toàn bộ diễn biến vụ việc, đặc biệt là thủ đoạn gian dối và thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt.

Trường hợp bị lừa đảo hoặc có nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi, người liên quan nên nhanh chóng bảo toàn chứng cứ và thực hiện các biện pháp pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Là một người có niềm đam mê với công việc nghiên cứu, Bảo Trâm luôn dành nhiều thời gian tìm hiểu, phân tích và cập nhật những quy định pháp luật mới nhất, nhằm mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác, dễ hiểu và có giá trị thực tiễn cao. Với mong muốn phổ biến kiến thức pháp lý một cách gần gũi, bài viết không chỉ tập trung vào việc trình bày các quy định khô khan, mà còn phân tích tình huống cụ thể, nêu rõ cách áp dụng pháp luật trong đời sống hằng ngày. Qua đó, Bảo Trâm hy vọng có thể góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền, nghĩa vụ của mình và có thể vận dụng pháp luật một cách hiệu quả trong thực tế.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?

4.8/5 - (711 bình chọn)

Các bài đọc tiếp theo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đăng ký ngay

Nhận những cập nhật pháp lý, văn bản mới và bài viết chuyên sâu từ Luật Online