Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn quan trọng trong tố tụng hình sự, được áp dụng nhằm bảo đảm quá trình điều tra, truy tố và xét xử được tiến hành thuận lợi, đồng thời ngăn ngừa người bị buộc tội bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tác động đến việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Tuy nhiên, do tạm giam trực tiếp hạn chế quyền tự do thân thể nên pháp luật quy định rất chặt chẽ về căn cứ, thẩm quyền và thời hạn tạm giam.
Vậy thời hạn tạm giam đối với bị can để điều tra là bao lâu? Khi chuyển sang giai đoạn truy tố và xét xử, thời hạn tạm giam được xác định như thế nào? Người bị tạm giam có được trả tự do khi hết thời hạn hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Nội dung bài viết
ToggleTạm giam đối với bị can, bị cáo là gì?
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Biện pháp này được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án hình sự được tiến hành đúng pháp luật.
Việc tạm giam có thể được áp dụng khi có căn cứ cho rằng người bị buộc tội có thể bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có hành vi tác động đến chứng cứ, người tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, tạm giam không phải là hình phạt và người bị tạm giam vẫn được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Do trực tiếp hạn chế quyền tự do thân thể, việc tạm giam phải được thực hiện đúng căn cứ, đúng thẩm quyền và trong thời hạn mà pháp luật quy định.
Thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo là bao lâu?
Theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn tạm giam bị can để điều tra được xác định căn cứ vào tính chất của tội phạm. Cụ thể:
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng
– Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng.
– Nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần thêm thời gian điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì có thể được gia hạn một lần không quá 01 tháng.
– Như vậy, thời hạn tạm giam thông thường và gia hạn tối đa đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 03 tháng.
Đối với tội phạm nghiêm trọng
– Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 03 tháng.
– Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp và đáp ứng điều kiện luật định, thời hạn tạm giam có thể được gia hạn một lần không quá 02 tháng.
– Như vậy, thời hạn tạm giam tối đa thông thường trong giai đoạn điều tra đối với tội phạm nghiêm trọng là 05 tháng.
Đối với tội phạm rất nghiêm trọng
– Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 04 tháng.
– Nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp và cần tiếp tục tạm giam thì có thể được gia hạn một lần không quá 03 tháng.
– Như vậy, thời hạn tạm giam tối đa thông thường đối với tội phạm rất nghiêm trọng là 07 tháng.
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
– Thời hạn tạm giam ban đầu đối với bị can là không quá 04 tháng.
– Trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giam có thể được gia hạn 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
– Ngoài ra, đối với trường hợp cần thiết, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không xâm phạm an ninh quốc gia còn có thể được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng theo khoản 6 Điều 173.
– Trong trường hợp đặc biệt và không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc điều tra.
Thời hạn tạm giam đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia
Đối với các vụ án về tội xâm phạm an ninh quốc gia, pháp luật có cơ chế gia hạn đặc biệt do tính chất của nhóm tội phạm này.
Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn tạm giam ban đầu và các lần gia hạn được thực hiện tương ứng theo tính chất của tội phạm. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
Nếu thời hạn này đã hết mà chưa thể kết thúc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì có thể tiếp tục gia hạn:
– Không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng
– Không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng
– Không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Đối với trường hợp đặc biệt của tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, nếu không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc điều tra.
Thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên
Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo không quá ½ thời hạn tạm giam tương ứng quy định đối với người thành niên trong các trường hợp luật định.
Đối với thủ tục xét xử thân thiện, theo quy định tại khoản 8 Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên được thực hiện như sau:
– Không quá 45 ngày kể từ ngày tuyên án
– Không quá 25 ngày kể từ ngày công bố quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Lưu ý: Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng và tội xâm phạm an ninh quốc gia, pháp luật còn quy định các trường hợp gia hạn đặc biệt. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào bảng trên để xác định thời hạn tạm giam tối đa trong mọi trường hợp.
Thời hạn tạm giam được tính như thế nào khi trước đó đã bị tạm giữ?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 17 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, cách tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ như sau:
– Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam để điều tra.
– Nếu việc tạm giam liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giam được tính tiếp từ ngày hết thời hạn tạm giữ.
– Nếu việc tạm giam không liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày bắt bị can để tạm giam cho đến ngày kết thúc được ghi trong lệnh (đã trừ đi số ngày bị tạm giữ).
– Thời điểm cuối cùng của thời hạn tạm giam là 24 giờ 00 phút của ngày cuối cùng được ghi trong lệnh.
– Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam phải căn cứ vào thời hạn thực tế được ghi trong quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh bắt bị can để tạm giam và tính liên tục cả ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết), 01 tháng tạm giam được tính bằng 30 ngày.
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị tạm giữ 03 ngày, từ 10 giờ 00 phút ngày 01/3/2018 đến 10 giờ 00 phút ngày 04/3/2018, sau đó A bị khởi tố bị can và bị ra lệnh tạm giam 02 tháng, thì thời hạn tạm giam thực tế đối với bị can là 01 tháng 27 ngày (đã trừ 03 ngày tạm giữ).
Ví dụ 2: Trần Thị B bị tạm giữ 06 ngày, từ 14 giờ 00 phút ngày 05/3/2018 đến 14 giờ 00 phút ngày 11/3/2018 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 11/4/2018 bị can B bị bắt để tạm giam thời hạn là 02 tháng, thì thời hạn tạm giam đối với bị can B là 01 tháng 24 ngày (đã trừ 06 ngày tạm giữ).
Hết thời hạn tạm giam có được trả tự do không?
Theo khoản 7 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được trả tự do. Nếu cơ quan có thẩm quyền xét thấy vẫn cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn thì có thể xem xét áp dụng biện pháp khác theo quy định pháp luật.
Trong thời gian tạm giam, nếu xét thấy không còn cần thiết phải tiếp tục tạm giam, Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ biện pháp này để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nếu có căn cứ.
Như vậy, việc tạm giam không phải là biện pháp được duy trì mặc nhiên cho đến hết thời hạn tối đa. Nếu lý do áp dụng tạm giam không còn thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét việc thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp.
Kết luận
Thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo được pháp luật quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và việc bảo vệ quyền tự do thân thể của người bị buộc tội. Trong giai đoạn điều tra, thời hạn tạm giam được xác định chủ yếu dựa trên mức độ nghiêm trọng của tội phạm; khi chuyển sang giai đoạn truy tố và xét xử, thời hạn này được xác định theo thời hạn của từng giai đoạn tố tụng.
Do đó, để xác định chính xác một người có bị tạm giam quá thời hạn hay không, cần xem xét toàn bộ hồ sơ, thời điểm bắt đầu tạm giữ, lệnh tạm giam, các quyết định gia hạn và giai đoạn tố tụng cụ thể. Trường hợp có dấu hiệu áp dụng tạm giam không đúng căn cứ hoặc quá thời hạn, người bị buộc tội hoặc người đại diện, người bào chữa có thể thực hiện quyền khiếu nại và các quyền tố tụng khác theo quy định pháp luật

















