Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, nếu phát hiện những vấn đề chưa được làm rõ hoặc có căn cứ cho thấy hồ sơ vụ án còn thiếu chứng cứ quan trọng, có hành vi phạm tội khác hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm bảo đảm vụ án được giải quyết khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, đồng thời hạn chế nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Tuy nhiên, không phải mọi thiếu sót trong hồ sơ đều là căn cứ để Tòa án trả hồ sơ, đặc biệt khi vấn đề đó có thể được làm rõ, khắc phục ngay tại phiên tòa.
Vậy những trường hợp nào Hội đồng xét xử được trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa? Khi nào Tòa án không được trả hồ sơ? Trình tự xử lý sau khi trả hồ sơ được thực hiện như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Nội dung bài viết
ToggleNhững trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tòa
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể trả hồ sơ điều tra bổ sung trong các trường hợp sau:
Thiếu chứng cứ quan trọng không thể bổ sung tại phiên tòa
Đây là một trong những căn cứ phổ biến để trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Theo điểm a khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự theo Điều 85 mà không thể bổ sung tại phiên tòa thì Tòa án có thể trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung.
Tuy nhiên, không phải cứ thiếu bất kỳ tài liệu nào là Tòa án phải trả hồ sơ. Chứng cứ còn thiếu phải có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và việc thiếu chứng cứ đó khiến Tòa án không thể giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
Cụ thể Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP hướng dẫn rằng chứng cứ trong trường hợp này phải được sử dụng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự và việc thiếu chứng cứ phải ảnh hưởng đến khả năng giải quyết đúng đắn vụ án.
Các vấn đề cần chứng minh có thể liên quan đến:
– Có hành vi phạm tội xảy ra hay không
– Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội
– Ai là người thực hiện hành vi phạm tội
– Có lỗi hay không có lỗi
– Có năng lực trách nhiệm hình sự không
– Mục đích, động cơ phạm tội
– Tính chất và mức độ thiệt hại
– Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
– Nhân thân của bị can, bị cáo
– Những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án
Ví dụ: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu giám định bổ sung về tỷ lệ tổn thương cơ thể và kết quả này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tội danh hoặc mức hình phạt. Nếu việc giám định không thể thực hiện ngay tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử có thể xem xét trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Thực tiễn xét xử cũng có trường hợp Tòa án trả hồ sơ vì xuất hiện tình tiết mới liên quan đến yêu cầu giám định mà không thể bổ sung tại phiên tòa.
Có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội khác
Theo điểm b khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nếu có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can hoặc bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, Tòa án có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Trường hợp này được đặt ra khi kết quả xét hỏi và các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa cho thấy phạm vi hành vi phạm tội có thể rộng hơn nội dung đã được truy tố.
Theo hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, có thể xem xét trả hồ sơ khi chứng cứ cho thấy hành vi của bị can, bị cáo cấu thành một hoặc nhiều tội khác hoặc ngoài hành vi đã bị truy tố còn có căn cứ để khởi tố về tội phạm khác.
Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích. Tuy nhiên, tại phiên tòa xuất hiện chứng cứ cho thấy bị cáo trước đó còn có hành vi chiếm đoạt tài sản của chính bị hại. Nếu hành vi này có dấu hiệu của một tội phạm độc lập và cần điều tra thêm thì Hội đồng xét xử có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Có căn cứ cho rằng còn đồng phạm khác chưa bị khởi tố
Tòa án cũng có thể trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu tại phiên tòa phát hiện căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án hoặc khởi tố bị can.
Đây là trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong trường hợp này nhằm tránh tình trạng chỉ xử lý một phần những người tham gia thực hiện tội phạm trong khi còn người khác có vai trò đồng phạm nhưng chưa được điều tra, xem xét trách nhiệm hình sự.
Theo hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung có thể phát sinh khi chứng cứ trong hồ sơ cho thấy ngoài bị can, bị cáo đã bị truy tố còn có người đồng phạm khác hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố.
Ví dụ: Một vụ án được truy tố đối với hai bị cáo về hành vi chiếm đoạt tài sản. Tại phiên tòa, lời khai và dữ liệu điện tử cho thấy còn một người khác trực tiếp cung cấp công cụ, hỗ trợ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Nếu cần xác minh thêm vai trò của người này thì Hội đồng xét xử có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
Theo điểm d khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, Tòa án có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Vi phạm thủ tục tố tụng phải đạt mức độ nghiêm trọng, có ảnh hưởng đến tính hợp pháp của hoạt động tố tụng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.
Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP liệt kê nhiều trường hợp có thể được xem xét là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chẳng hạn:
– Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền
– Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự
– Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
– Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự
– Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều 242 của Bộ luật Tố tụng hình sự
– Không cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án cho người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác
– Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (tuổi, tiền án, tiền sự), lý lịch hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội (tên, địa chỉ, những vấn đề khác liên quan đến hồ sơ pháp lý của pháp nhân thương mại)
– Không có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt; họ là người câm, người điếc, người mù theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng hình sự
– Không từ chối tiến hành, tham gia tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong trường hợp quy định tại các điều 49, 51, 52, 53, 54, 68, 69 và 70 của Bộ luật Tố tụng hình sự
– Việc điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh đối với vụ án không đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự;
– Biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà không chuyển cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng hình sự
– Chứng cứ để chứng minh đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án
– Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật
– Có căn cứ để xác định có việc bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật
– Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ
– Những trường hợp khác phải ghi rõ lý do trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Khi nào Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung?
Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung là một cơ chế đặc biệt và không được sử dụng để Tòa án yêu cầu điều tra lại mọi vấn đề của vụ án.
Đối với trường hợp có căn cứ cho rằng bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội khác hoặc có đồng phạm khác, pháp luật hướng dẫn một số trường hợp không trả hồ sơ điều tra bổ sung , chẳng hạn:
– Có thể xét xử bị cáo về tội tương ứng bằng hoặc nhẹ hơn
– Có thể xét xử bị cáo về ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố
– Đã có quyết định tách vụ án hoặc có căn cứ để tách vụ án theo quy định
– Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ theo thủ tục luật định
Ngoài ra, nếu vấn đề có thể được làm rõ bằng việc xét hỏi, công bố tài liệu, đối chất hoặc thực hiện hoạt động tố tụng ngay tại phiên tòa thì về nguyên tắc không cần thiết phải trả hồ sơ.
Điều này nhằm hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án và bảo đảm hoạt động xét xử được thực hiện trong phạm vi thẩm quyền của Tòa án.
Kết luận
Trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tòa là thủ tục nhằm bảo đảm vụ án hình sự được giải quyết khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Theo Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, các căn cứ chủ yếu gồm: thiếu chứng cứ quan trọng không thể bổ sung tại phiên tòa; có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội khác; có đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan chưa được khởi tố; hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung phải được thực hiện có căn cứ, tránh lạm dụng làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Đồng thời, khi phát sinh vấn đề mới tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần đánh giá khả năng giải quyết ngay tại phiên tòa trước khi quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.

















